Chuyên mục: Nhân lực

Cầu trục – Thiết bị không thể thiếu trong ngành công nghiệp!

Chức năng Cầu trục là gì? Chúng được tiêu dùng như thế nào ở đâu? Hiệu quả cầu trục mạng lại như thế nào? Phân chiếc những sản phẩm cầu trục thông dụng hiện nay .

Tổng quan về cầu trục
Cầu trục được sử dụng để vận động vật nặng hoặc bự chảng phía trên nhà xưởng thay vì di chuyển theo lối đi trên sàn nhà là thiết bị với khả năng nâng lên, hạ xuống và di chuyển vật nặng trong khoảng nơi này sang nơi khác. Xem danh mục sản phẩm Cầu trục được điều khiển bằng điện, bằng sức người hoặc bằng khí nén bởi người vận hành trong khoảng tay bấm điều khiển, cabin điều khiển, điều khiển trong khoảng xa. Cầu trục được tiêu dùng phổ quát để chuyển di nguyên nguyên liệu dùng cho sản xuất , lưu kho hàng hóa, bốc xếp hàng hóa trong nhà xưởng, dùng cho kho bãi ngoài trời, chuyên dụng cho tại các ga tàu hoặc bến cảng.

Cầu trục là gì?
Cầu trục phục vụ một khu vực mang diện tích hình chữ nhật, chuyển động vật sang trái phải và dọc theo chiều dài nhà xưởng. đồ vật nâng hạ trên cầu trục được gọi là pa lăng. Pa lăng được gắn trên 1 khuông xe con di chuyển trái phải, dọc theo dầm cầu trục dạng đơn hoặc đôi. Dầm cầu trục được kết liên sở hữu dầm biên (cơ cấu đi lại cầu trục ) ở cả hai đầu dầm chính. Dầm biên được liên kết mang dầm chính và có khả năng chuyển di trên phố ray sắp đặt dọc chiều dài nhà xưởng. Cầu trục với một số chiếc thông dụng chậm tiến độ là: cái cầu trục đẩy tay được vận hành phê chuẩn sức người, chiếc cầu trục điện vận hành nhờ nguồn điện và sở hữu chiếc cầu trục được vận hành bằng khí nén. bên cạnh đó, cầu trục được chia theo cấu tạo bao gồm phổ biến mẫu cầu trục với nhiều vận dụng khác nhau như:

Cầu trục dầm đơn – Cấu tạo kiểu 1 dầm chính kết nối có dầm biên ở hai đầu. Cầu trục dầm đơn được vật dụng một pa lăng hoặc 1 cơ cấu nâng vận động phía dưới dầm chính. thỉnh thoảng người ta còn gọi cầu trục dầm đơn là cầu trục chạy dưới là do vậy .

Cầu trục dầm đôi – Cấu tạo kiểu hai dầm chính kết nối bên trên hai bộ dầm biên ở hai đầu. Cau truc dam doi thường được vật dụng 1 pa lăng dầm đôi chuyển động phía trên dầm chính. Pa lăng dầm đôi với bộ khung pa lăng sở hữu bốn bánh xe độc lập.

Cầu trục quay – Là dòng cầu trục mà thanh cần quay xung quanh 1 cột khăng khăng hoặc quay vòng vo trụ đứng gắn lên tường.
Cầu trục dựa tường – Là cái cầu trục mà một bên dầm chạy được gắn lên tường nhà xưởng. Cầu trục dựa tường mang khả năng di chuyển giống như cầu trục dầm đơn, dầm đôi.

Cầu trục monorail – Là cầu trục nhất mực 2 đầu dầm. Pa lăng chỉ chuyển di trái, phải theo chiều dài dầm chính.

Cầu trục treo – Là dòng cầu trục mà cơ cấu di chuyển cầu trục (dầm biên) được treo bên dưới dầm đỡ ray. Cầu trục treo thường dễ bị nhầm mang cầu trục dầm đơn do cấu tạo của chúng phần nhiều là giống nhau.

Cầu trục dầm hộp – Cấu tạo dầm chính dạng hộp được ghép lại từ thép tấm. Dầm chính dạng hộp giúp nâng cao cường khả năng chịu vận chuyển của cầu trục cũng như mở mang tim ray pa lăng (xe con).

Cầu trục dạng giàn ko gian – mang cấu tạo dầm chỉnh kiểu giàn, được chế tạo trong khoảng các cái thép hình, bố trí ngang, dọc theo dầm chính giúp nâng caotải trọng cũng như khẩu độ của cầu trục.
Cầu trục dầm I – có dầm cầu trục cấu tạo bằng dòng thép I đúc tiêu chuẩn và đôi khi là thép H tổ hợp.
Cầu trục tháp – Thường gọi là Cần trục tháp – sử dụng để nâng hạ, đi lại vật nặng tại những công trường xây dựng. đôi khi còn hoạt động tại các cảng biển, gha tàu. lúc ngừng thi côngĐây ta với thể gọi là cầu trục chân đế hoặc cầu trục cột.

Cơ cấu đi kèm có cầu trục (ngoài đồ vật đồng bộ) hay còn gọi là thiết bị dưới móc cẩu.
có rộng rãi chiếc trang bị khác nhau có thể được sản xuất cộng có cầu trục, dùng cho một số áp dụng đặc biệt bao gồm:
Kẹp tôn cuộn (móc chữ C) là vật dụng giúp cầu trục có khả năng nâng hạ những cuộn tôn (thép cuộn) trong các tổ chức sản xuất thép hay các nhà máy phân phối thép. Kẹp tôn cuộn với thể đóng mở cơ học hoặc đóng mở bằng động cơ điện.

Gầu ngoạm mang thể được thiết bị với cầu trục. Gầu ngoạm sở hữu chiếc gầu ngoạm đóng mở cơ học hoặc đóng mở bằng thủy lực. Gầu ngoạm thường được trang bị mang cầu trục lúc tiêu dùng trong công tác xử lý rác thải, bốc xếp các loại vật liệu rời.

Dầm nâng được thiết bị sở hữu cầu trục lúc cần nâng hạ song song tại 2 điểm trọng lúc cầu trục chỉ với 1 móc nâng.
Xà từ (mâm từ) là trang bị tương trợ nâng hạ những cái thép tấm, thép thanh, thép truất phế liệu khôn xiết hiệu quả. Cầu trục mâm trong khoảng được vật dụng trong phần lớn những tổ chức phân phối về kết cấu thép, gia công cơ khi . Xà từ có thể quay được 180 độ hay 360 độ tùy vào ngoại hình .

Ma ní: là thiết bị tiêu dùng kết hợp sở hữu cáp cẩu hàng. cố định vật nâng cho cứng cáp trong thời kỳ nâng hạ hàng hóa.

trang bị lật tổng đoạn: vật dụng kèm sở hữu cầu trục chuyên dụng cho mục đích lật các cơ cấu, tổng đoạn trong giai đoạn cung ứng .
áp dụng của cầu trục
Cầu trục được dùng sở hữu phổ biến mục đích khác nhau như:
Lắp ráp, ghá ghép sản phẩm: dùng để chuyển động những bộ phận , bán thành phẩm trong dây chuyền sản xuất .
Vận chuyển: Nâng hạ thành phẩm trong khoảng dây chuyền phân phối lên phương tiện vận tải .
Nâng giữ chi tiết: sử dụng để nâng giữ chi tiết đang phân phối .
Kho bãi: tải hàng hóa nặng nhập và xuất kho.
ích lợi của cầu trục là gì?
Cầu trục với phần lớn lợi ích như:
Linh hoạt: vì cầu trục với thể hoạt động ở bất kỳ đâu và với thể thuận lợi điều chỉnh theo nhu cầu do đó được áp dụng ở phổ thông ngành nghề.
Dễ điều chỉnh: Cầu trục có thể được kiểu dáng , điều chỉnh theo đúng như mong muốn của chủ đầu cơ .
Hiệu quả: Cầu trục là 1 trong các công cụ hỗ trợ lao động hiệu quả nhất trong các nhà máy cung ứng. Hơn nữa còn rất an toàn cho người tiêu dùng .

Năng suất cao: Cầu trục hoạt động dễ dang trong điều kiện phổ biến vật cản trên sàn nhà máy, không cần phải xem xét lối đi cho cầu trục vì nó vận động phía trên ko gian nhà xưởng.
Chí phí bảo dưỡng, duy tu thấp: So sánh mang các trang bị nâng hạ khác, cầu trục sở hữu chi phí duy tu, bảo dưỡng tốt nhất. cố nhiên là cầu trục phải có chất lượng tốt , mới lắp đặt.

Giảm mức giá nhân công: một bộ cầu trục sở hữu thể được so sánh có rộng rãi xe nâng và mang thể hoạt động trong một khu vực rộng to hơn, tiếp cận phổ thông khu vực hơn.
giảm thiểu rủi ro hư hại sản phẩm: với đồ vật cầu trục tích hợp biến tần, sở hữu khả năng nâng hạ, đi lại nhẹ nhàng, cầu trục giúp giảm thiểu tới mức phải chăng nhất các hư hại cho sản phẩm trong công đoạn chuyển vận .
An toàn: dĩ nhiên là cầu trục an toàn hơn các cái xe nâng vì nó ko đi lại trên sàn nhà xưởng, nơi những người lao động đang khiến việc.
Cầu trục được tiêu dùng ở đâu?
Cầu trục tiêu dùng để nâng hạ, đi lại những vật nặng trong nhiều ngành nghề công nghiệp như:
Công nghiệp chế tác và lắp ráp ô tô
Công nghiệp chế biến
Công nghiệp hóa chất
Công nghiệp in ấn
Công nghiệp chế tác , gia công cơ khí.
Công nghiệp cung ứng giấy.
Công nghiệp thép, luyện kim.
vận chuyển và hoạt động kho bãi.

Nhà thầu Việt tìm đường bước chân vào thị trường ngoại (P.2)

Có một yếu tố đặc biệt quan trọng cần phát huy đó là vai trò của các cơ quan chuyên trách ở trong nước cần kết nối với các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về những thị trường cũng như làm cầu nối hiệu quả. Điều này đã có nhiều nước làm rất tốt khi họ muốn đưa doanh nghiệp đi vào tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác tại Việt Nam và thường thông qua các Đại sứ quán hoặc cơ quan thương mại. Đối với các doanh nghiệp Việt, thường thì những lĩnh vực thương mại nhận được nhiều hỗ trợ thông tin và kết nối hơn chứ lĩnh vực xây dựng hay lĩnh vực cung cấp máy móc phục vụ xây dựng như máy nâng hạ, cổng trục dầm đôi 5 tấn…. thì hầu như không có – một số đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, chế tạo đã nhận xét.

Tổng Giám đốc của Tổng Công ty Lắp Máy Việt Nam (Lilama) Lê Văn Tuấn chia sẻ, đã có lần những đoàn doanh nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam, thậm chí Đại sứ của nước đó còn trực tiếp đứng ra để kết nối với một số doanh nghiệp Việt để hai bên có cơ hội hợp tác và tìm hiểu lẫn nhau. Điều này đã cho thấy, yếu tố kết nối đặc biệt quan trọng bởi nó giúp doanh nghiệp dễ dàng tìm đúng đường, đúng đối tác, tránh lòng vòng mất thời gian và sẽ kém hiệu quả.

Hiện nay các cơ quan đại diện tại nước ngoài mới chính là những bộ phận có điều kiện nghiên cứu sâu về thị trường để có thể phát hiện ra tiềm năng, cung cấp thông tin, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng trong nước nhanh chóng tiếp cận. Sự kỳ vọng của nhà thầu Việt khi muốn chinh phục thị trường ngoại là tìm được cầu nối, xúc tiến hiệu quả về chương trình hội nhập quốc tế.

Ở phía góc độ của Hiệp hội Nhà thầu, ông Hải đề xuất, khi đàm phán các hiệp định quốc tế trong tương lai, cần phải quan tâm đưa vào yêu cầu cho phép doanh nghiệp xây dựng Việt Nam được hành nghề cũng bình đẳng như những nhà thầu nước ngoài khác và tốt nhất là cũng bình đẳng với doanh nghiệp xây dựng ở nước sở tại, được miễn giảm về thuế nhập khẩu lao động, vật tư và các phương tiện thi công.

Các doanh nghiệp xây dựng khi bước ra nước ngoài hoạt động cần được tạo điều kiện thuận lợi về các mặt thủ tục hành chính, về bảo lãnh, xuất cảnh, về chuyển tiền…; đặc biệt áp dụng những chính sách tránh đánh thuế hai lần để thực hiện ưu đãi này nếu nước sở tại đã có được Hiệp định với Việt Nam.

Về phía bên doanh nghiệp cũng phải chủ động tăng cường những chương trình về đào tạo và cấp chứng chỉ nghề nghiệp có giá trị quốc tế cho những lao động sẵn sàng đi làm việc tại nước ngoài bao gồm cả công nhân, cả kỹ sư và chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng.

Một mặt khác, những chính sách phù hợp, khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam chuyên môn hóa sản phẩm là rất cần thiết. Như vậy sẽ dần hình thành những doanh nghiệp xây dựng chuyên sâu về nhà ở, công trình phúc lợi bệnh viện, trường học hoặc một loại công trình công nghiệp hay hạ tầng nào đó. Như vậy, nguồn lực sẽ được tập trung sử dụng đúng chỗ, tính chuyên môn hóa cao thì năng lực cạnh tranh quốc tế cũng sẽ được nâng lên rất rõ rệt, hướng đến phát triển thị trường xây dựng ra phạm vi toàn cầu.

Nhân lực tại Việt Nam

Mô hình doanh nghiệp – thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam

  1. Thực trạng

Việt nam ngày nay đang ở trong quá trình “Dân số Vàng” trong cơ cấu dân số sở hữu hàng ngũ cần lao khoảng 53 triệu người trong tổng số 86 triệu dân. cótruyền thống cần cù , chịu khó, yêu thích học hỏi cũng như sự để ý đầu cơ cho giáo dục của toàn xã hội, nguồn nhân lực dồi dào này phải trở thành lợi thế cho sự vững mạnh kinh tế – thị trấn hội.
không những thế , sức khó khăn của nền kinh tế Việt nam bây giờ đang rất yếu kém mà một trong các cỗi nguồn chủ yếu khởi hành từ thực trạng của nguồn nhân công chất lượng rẻ. Điều này là kết quả của các đặc điểm chủ yếu sau:

1 . Hệ thống giáo dục, tập huấn và vững mạnh nhân lực: Cung không đủ Cầu

hiện giờ Việt nam với tổng số 376 trường đại học, cao đẳng, 864 trung tâm dạy nghề, trên một.000 hạ tầng dạy nghề khác trên cả nước. mang quy mô này năm 2009, cả nước tuyển sinh hơn nửa triệu sinh viên, gấp 4 lần năm 1997 và 14 lần năm 1987.

Về quy mô, tổng số sinh viên cả nước là một,7 triệu em khi mà năm 1997 là hơn 700.000 và năm 1987 là 130.000 . Qui mô đào tạo nghề hàng năm luôn ở mức một ,5 triệu (1 triệu lao động duyệt tập huấn nghề và 0,5 triệu sinh viên rẻ nghiệp đại học và cao đẳng) lượt người được qua huấn luyện nghề. Điều này cho thấy phấn đấu lớn to của chính phủ trong việc đầu tư vững mạnh nguồn nhân lực . tuy nhiên sở hữu quy mô đào tạo như vậy, chỉ khoảng 13% số người trong độ tuổi 18-24 đang theo học trong các trường đại học và cao đẳng và tỷ lệ lao động thông qua tập huấn nghề chỉ ở mức 26%. trong khi những tổ chức đang có nhu cầu nhân lực rất lớn cho sự phát triển của mình thì vẫn còn 10 triệu cần lao không mang việc làm .

Chính phủ đang mang những nỗ lực đầu cơ để đến năm 2020 có 450 sinh viên / một vạn dân trong chậm tiến độ khoảng 70 – 80% tổng số sinh viên theo học những chương trình nghề nghiệp – áp dụng (gấp đôi số lượng sinh viên đang theo học đại học và cao đẳng năm 2009) – và 50% nhóm cần lao ưng chuẩn tập huấn nghề.

bởi thế , mở rộng quy mô tập huấn, tạo điều kiện để mọi người mang thể tiếp cận hệ thống giáo dục và đào tạo đang là 1 đòi hỏi bức bách đặt ra trước toàn phường hội nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm và lớn mạnh kinh tế – thị trấn hội. Thách thức này ko thuận lợi đáp ứng trong điều kiện nguồn lực eo hẹp hiện giờcủa Việt nam.

 

Con số báo động – hơn 500.000 thanh niên Việt Nam đang thất nghiệp

Kết thúc 3 tháng đầu năm 2017, Việt Nam có đến 1,14 triệu lao động đang thất nghiệp, tăng hơn 20.000 lao động so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên có một con số đáng báo động là có hơn 500.000 thanh niên trong độ tuổi từ 15 – 24 tuổi đang không có việc làm. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp là 6,96%, cao hơn gấp 3 lần so với tỷ lệ chung của tất cả các nhóm tuổi.

Theo chia sẻ của bà Nguyễn Thị Xuân Mai – đại điện Vụ Thống kê Dân số và Lao động, những ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển miền Trung đã khiến tỷ lệ lao động thất nghiệp của tỉnh Hà Tĩnh tăng cao lên đến 17%. Đến thời điểm hiện tại vẫn còn 275 doanh nghiệp và 44 hợp tác xã ở các tỉnh miền Trung phải tạm ngừng sản xuất do những ảnh hưởng mà Formosa đã gây ra.
Mặt khác, ở nhiều tỉnh ven biển miền Trung, trình độ dân trí của lao động còn thấp nên việc đi xuất khẩu lao động khá khó khăn. Thêm vào đó, trước thực trạng lao động chui ngày càng gia tăng, phía Hàn Quốc đã ra thông báo ngừng tiếp nhận lao động từ 58 quận/ huyện của Việt Nam trong năm 2017, trong đó chủ yếu là lao động của tỉnh miền Trung.

Trong khi tỷ lệ thanh niên thất nghiệp tăng cao bất thường thì doanh nghiệp lại thiếu nguồn lao động. Vậy nguyên nhân của mâu thuẫn này là do đâu?

Có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến mâu thuẫn này, nhưng có một nguyên nhân quan trọng là do chất lượng nguồn lao động. Doanh nghiệp luôn muốn tuyển được lao động có tay nghề, có kinh nghiệm làm việc, trong khi các bạn trẻ đi xin việc lại không có được điều này. Vì môi trường đào tạo chỉ nhào nặn ra nhiều lao động biết “học” chứ chưa biết “hành”.
Để giải quyết bài toán thanh niên thất nghiệp, không chỉ là trách nhiệm của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào. Nhưng quan trọng nhất là các bạn thanh niên phải tự chủ động tìm việc làm cho mình. Có thể có nhiều nguyên nhân khiến bạn chưa tìm được một công việc như mong muốn, vì thế mà chính bản thân bạn cần phải thay đổi: tìm công việc khác, chấp nhận đi làm xa hơn… để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng thất nghiệp.

Biện pháp nào khắc phục sự thiếu hụt nhân lực cơ khí (Phần 2)

Xem thêm Biện pháp nào khắc phục sự thiếu hụt nhân lực cơ khí (Phần 1)

Đào tạo và nhu cầu chưa gặp nhau

Các công ty cơ khí thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong khi nhiều cử nhân, học viên ra trường vẫn lận đận tìm việc. Nguyên nhân của tình trạng này là do chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp. Hơn nữa, các trường chưa thực sự hiểu được nhu cầu lao động của doanh nghiệp ra sao để có chương trình đào tạo phù hợp.

Ở những trường đào tạo ngành cơ khí có tiếng, hệ đào tạo vẫn cũ, kiến thức không cập nhật, phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, sinh viên, học sinh học nhiều lý thuyết, ít thực hành; trang thiết bị nghèo nàn; học viên cũng không có cơ hội tiếp cận với máy móc hiện đại nên vô cùng bỡ ngỡ khi ra trường. Đó là chưa kể đến chất lượng đào tạo của nhiều trường, cơ sở dạy nghề còn kém hơn.

Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành cơ khí cần có sự tương tác chặt chẽ giữa yêu cầu của thị trường lao động và công tác đào tạo, dạy nghề; sự kết hợp giữa lý thuyết trong trường và thực hành ở các xí nghiệp, công ty cơ khí.

Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nên liên hệ với doanh nghiệp để nắm bắt được nhu cầu lao động của doanh nghiệp ra sao, từ đó sẽ có chương trình đào tạo phù hợp. Thêm vào đó, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với nhau, giúp học viên có cơ hội thực tập tại doanh nghiệp ngay từ những năm đầu, góp phần nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Doanh nghiệp cũng phải chủ động tìm kiếm nguồn nhân lực tiềm năng và có cơ chế đào tạo phù hợp ngay từ khi học viên đang học trong trường.

 

Biện pháp nào khắc phục sự thiếu hụt nhân lực cơ khí (Phần 1)

Trong khi các doanh nghiệp cơ khí VN luôn than thiếu lao động thì một lượng sinh viên, học viên ra trường lại khó kiếm việc làm. Nguyên nhân của nghịch lý này là do chất lượng việc đào tạo chưa đáp ứng được những nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng cung không đáp ứng đủ cho cầu nên nhân lực ngành cơ khí đã thiếu nay lại càng thiếu.

 

Thiếu một nguồn nhân lực chất lượng cao

Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay lúc nào cũng phải đối mặt với bài toán thiếu hụt lao động tay nghề cao, từ kỹ sư cho đến công nhân kỹ thuật. Lao động ngành này chỉ mới có hể đáp ứng được nhu cầu về số lượng chứ chưa thể đáp ứng được nhu cầu chất lượng. Vì thế, không chỉ có các công ty cơ khí gặp khó khăn mà cả người lao động cũng tự đánh mất cơ hội việc làm của bản thân mình.

Các kỹ sư, công nhân sau khi ra trường nắm vững lý thuyết nhưng lại thiếu kỹ năng nghề nghiệp, tay nghề thấp nên không thể đáp ứng được những yêu cầu công việc. Do đó, khi tuyển dụng, doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo lại từ đầu nên doanh nghiệp không tin tưởng vào chất lượng đào tạo chuyên môn của các trường, cơ sở dạy nghề.

Tuyển được nhân lực cơ khí chất lượng cao đã khó nhưng việc giữ chân họ ở lại còn khó hơn nhiều; số làm được việc thì ít mà lại không muốn gắn bó lâu dài với công ty. Công việc vất vả, mức lương lại không đủ trang trải cuộc sống nên nếu doanh nghiệp không có những chính sách đãi ngộ tốt, chỗ khác trả lương cao hơn là họ sẽ nhảy việc.

Đặc biệt, với nguồn nhân lực cơ khí trong nước đang thiếu trầm trọng nhưng lao động ngành này lại thích đi xuất khẩu lao động sang các nước Hàn, Nhật vì mức lương hấp dẫn, nhất là đối với kỹ sư, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Vì thế, các công ty cơ khí trong nước lại càng “khát” nhân lực chất lượng hơn trong khi nhiều học viên vẫn thất nghiệp.

Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.6)

Xem thêm Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.5)

Tuy nhiên, việc hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có một nguồn lực nhất định. Chính phủ đã tăng cường hội nhập, tham gia vào các tổ chức quốc tế, trong đó có khoa học công nghệ. Bộ KHCN đang quyết tâm xây dựng nên một viện nghiên cứu theo mô hình viện nghiên cứu tiên tiến của nước ngoài (V-KIST), nơi mà có môi trường làm việc tương đương các viện nghiên cứu tại các nước phát triển. Viện này khi bắt đầu đi vào hoạt động được kỳ vọng sẽ tập hợp được các nhà khoa học tài năng của Việt Nam bốn phương cùng gây dựng, phát triển đóng góp vào sự phát triển chung của nền KHCN nước nhà.

        Với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KHCN được ban hành trong nhiều năm nay nhưng hiệu quả thực tế còn thấp. Thiết nghĩ, Bộ KHCN cần phải xác định một trong những nhiệm vụ để có thể triển khai chính sách mới trong năm 2016 là việc đổi mới các đơn vị sự nghiệp công trong ngành. Các nhà khoa học cần phải được đào tạo, được đầu tư rất nhiều về nguồn lực, cơ sở vật chất trang thiết bị, sau bao năm như vậy mà không thể tự chủ được thì thật khó hiểu. Giờ đây, bầu sữa ngân sách của nhà nước sẽ được giao dưới cơ chế đặt hàng, chú trọng đến những kết quả đầu ra của sản phẩm, dịch vụ. Việc thay đổi những thói quen, tư duy đã ăn sâu vào suy nghĩ và nếp làm việc không thể trong một sớm một chiều, song yêu cầu về chuyển đổi, thay đổi từ thực tiễn và cá chính sách là không thể khác được. Việc tự chủ về bộ máy và tài chính sẽ được trao quyền chủ động cho các tổ chức KHCN, từ đó thúc đẩy sự tự vận động từ việc trì trệ đến năng động, hiệu quả, tạo ra những thành quả hữu ích của các tổ chức này.

 

Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.5)

Xem thêm Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.4)

 

        Năng lực sáng tạo của người Việt Nam đã được thể hiện qua chuỗi lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước oanh liệt từ thời cha ông. Trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hiện nay, vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao phải khơi dậy sức sáng tạo của mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp và của toàn thể xã hội. Để từ những sáng kiến nhỏ ban đầu cho đến những sáng chế, sản phẩm cụ thể, trong đó không thể thiếu được vai trò của các nhà khoa học, tổ chức khoa học cũng như sự hỗ trợ từ phía Bộ KHCN. Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã chỉ ra rằng, bản thân Bộ KHCN cần phải thay đổi mạnh mẽ, từ việc ra những đầu bài nghiên cứu. Muốn hạn chế các đề tài không có địa chỉ ứng dụng, cần giảm thiểu những đầu bài do các viện, các nghiên cứu viên đề xuất, tăng cường ra các đầu bài nghiên cứu từ thực tiễn, các Sở KHCN cần phải đóng vai trò lớn hơn trong tập hợp các yêu cầu thực tế sản xuất kinh doanh thành những đề tài nghiên cứu về khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng và triển khai.

        Trong một nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng hiện nay, chúng ta không thể đóng cửa chỉ làm khoa học. Hội nhập quốc tế sẽ tiếp cận được những thành tưu KHCN mới nhất, học tập được những kinh nghiệm và ứng dụng của các quốc gia đi trước, kế thừa các thành quả KHCN của nhân loại mà không phải bắt đầu nghiên cứu lại từ đầu. Qua đó, có thể bớt gánh nặng về tốn kém nguồn lực, chất xám bởi rất nhiều các đề tài nghiên cứu từ đầu của chúng ta thế giới đã được thực hiện và công khai.

Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.4)

Xem thêm Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.3)

Triển khai các chính sách KHCN vào cuộc sống

 

        Trong Hội nghị triển khai các nhiệm vụ của Bộ KHCN vừa qua, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã cho rằng, Bộ đã rất nỗ lực phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, các chính sách mới đổi mới hoạt động KHCN. Năm 2016, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu của Bộ là triển khai, đưa ra các chính sách, các cơ chế này vào thực tiễn sớm nhất. Đồng thời, sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để ban hành các thông tư hướng dẫn việc thực hiện các chính sách mới mà ngành đã nỗ lực xây dựng trong năm qua. Cùng với đó, Bộ trưởng Nguyễn Quân cũng đã cho biết, năm 2016 được ngành KHCN xác định là một năm triển khai, đưa các kết quả nghiên cứu vào trong ứng dụng, thương mại hóa sản xuất kinh doanh, góp phần vào phát triển KT-XH bền vững, hạn chế các đề tài, dự án không có địa chỉ ứng dụng, để cất ngăn kéo.

        Rõ ràng, để cho đất nước có thể phát triển bền vững, giữ vững được độc lập chủ quyền, từng bước nâng cao thêm thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân thì cần phải có một tiềm lực KHCN đủ mạnh. Thời gian qua, ngành KHCN đã có nhiều nỗ lực nhằm mục đích xây dựng tinh thần KHCN trong cộng đồng, các doanh nghiệp, tuy nhiên các nỗ lực cải cách này mới chỉ là bước đầu. Để các doanh nghiệp thực sự đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã cho rằng, Bộ KHCN cần tiếp tục đeo bám các bộ, ngành để có các cơ chế thực sự thiết thực đối với các doanh nghiệp, để doanh nghiệp thực sự thấy được rõ lợi ích trong ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ. Đồng thời, Bộ KHCN cần phải là đầu mối cùng với giới khoa học nói chung và các bộ, ngành tích cực cải thiện được môi trường kinh doanh, xóa bỏ độc quyền, ưu ái, để cho nguồn lực xã hội được phân phối thực sự dựa trên sức cạnh tranh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Khi đó, doanh nghiệp mới dồn sức cho bên R&D; KHCN mới có động lực phát triển.

Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.3)

Xem thêm Hành động để đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống (P.2)

        Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành KHCN cũng đã nhận thấy rõ nhiều hạn chế cần phải tiếp tục tháo gỡ. Đó là tiềm lực và trình độ KHCN, đội ngũ cán bộ KHCN vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu, thiếu các tập thể khoa học mạnh, các viện nghiên cứu, trường đại học đẳng cấp quốc tế, còn thiếu các cán bộ đầu ngành. Do đó, KHCN chưa đóng góp nhiều vào yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào việc tăng trưởng thấp. Trở thành động lực chủ yếu cho việc tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế vẫn là một thách thức lớn của KHCN. Cùng với đó, ngành còn thiếu các hướng đi ưu tiên phù hợp, các chính sách, giải pháp mạnh mẽ để tạo đột phá trong những lĩnh vực mà Việt Nam đang có lợi thế, vì vậy, chưa hình thành được các ngành mũi nhọn, đạt được trình độ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh bình đẳng với các khu vực và thế giới.

        Bộ trưởng Bộ KHCN Nguyễn Quân đã thẳng thắn nhìn nhận, bất cập của ngành lớn nhất hiện nay là sức ỳ trong đổi mới về tư duy của những người làm quản lý KHCN, những người trực tiếp làm trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN. Chúng ta hít thở không khi bao cấp quá dài, khi chuyển sang một cơ chế thị trường, rất nhiều cán bộ khoa học và cán bộ quản lý chưa thể thích nghi kịp với những cơ chế mới của nền kinh tế thị trường. Hoạt động khoa học sẽ không đáp ứng được tính đổi mới, tính linh hoạt và tính đặc thù của thị trường. Một trong số những nguyên nhân dẫn đến yếu kém này là công tác truyền thông KHCN chưa tương xứng được với tốc độ đổi mới của nền kinh tế và chưa tạo ra được tinh thần KHCN trong mỗi người, trong mỗi doanh nghiệp, trong xã hội. Hầu hết các viện, trường, trung tâm nghiên cứu của chúng ta đều dựa vào tài trợ từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được đầu tư của xã hội, của doanh nghiệp cho KHCN.