Thẻ: nhân lực

Những điểm hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam

Ngày hội việc làm

Tình trạng thừa thầy thiếu thợ đang là vấn đề trọng điểm và phổ biến của nên kinh tế Việt Nam. Vậy có nguồn nhân lực của Việt Nam có những hạn chế gì chúng ta cùng theo dõi thông qua bải viết dưới đây nhé.

Ngày hội việc làm
Ngày hội việc làm

5 hạn chế phổ biến của nguồn nhân lực Việt Nam:

  • Lực lượng lao động có trình độ còn ít trong tổng lao động, thiếu công nhân lành nghề và lao động có trình độ cao.
  • Phân bố lực lượng lao động chưa đều, nhất là lao động có trình độ.
  • Tinh thần trách nhiệm trong công việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, văn hoá doanh nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao.
  • Khả năng làm việc theo nhóm, tính sáng tạo, chuyên nghiệp trong quá trình lao động còn nhiều hạn chế, khả năng giao tiếp, năng lực giải quyết xung đột trong quá trình lao động còn yếu kém.
  • Về cơ bản đội ngũ lao động Việt Nam giỏi lý thuyết, nhưng kém về năng lực thực hành và ứng dụng công nghệ cao vào quá trình lao động, kém về ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực cạnh tranh cao.
  • Trình độ của người lao động còn nhiều hạn chế, bất cập, do chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa phù hợp với  sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội.
  • Thể chất của lực lượng lao động còn yếu: Về cơ bản, thể chất của người lao động Việt Nam đã được cải thiện, nhưng còn thấp so với các nước trong khu vực, thể hiện ở các khía cạnh tầm vóc, sức khoẻ, sức bền, khả năng chịu áp lực…

Bài toán nhân lực – vì sao Việt Nam vẫn thừa thầy thiếu thợ?

Thiếu nhân lực

Thực tế hiện nay, tình trạng thất nghiệp ở nước ta đang ở mức báo động. Chỉ vài năm trở lại đây, chúng ta không lấy gì làm lạ khi số lượng trường đại học được mở ra hàng loạt từ cả hình thức công lập và dân lập, từ đào tạo tại chỗ đến đào tạo từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trường còn đào tạo liên thông một cách ồ ạt và không giới hạn rõ số lượng. Đào tạo nhiều như vậy nhưng các doanh nghiệp luôn rất khó khăn trong việc tìm nhân lực có trình độ vì hệ thống giáo dục trong trường học của chúng ta làm việc hiệu quả quá thấp. Nhìn thực tế, nhiều trường đào tạo lấy chỉ tiêu và nghiêng về kinh doanh chứ không chú tâm đến chất lượng. Theo đánh giá thống kê, Việt Nam có 1,0887 triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp; tăng 16.400 người so với quý I/2016 và chiếm khoảng 2,29%. Đặc biệt, thất nghiệp nhiều nhất là nhóm trình độ đại học trở lên với hơn 191.000 người, tiếp đến là cao đẳng chuyên nghiệp với 94.800 người và trung cấp chuyên nghiệp với 59.100 người.

Thiếu nhân lực
Thiếu nhân lực

Một xã hội ai cũng có thể dễ dàng vào đại học, dễ dàng tốt nghiệp đại học thì tội gì không học ? Việc cho mở quá nhiều trường đại học ở khắp các tỉnh thành chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhiều cử nhân, thạc sĩ đang phải đi làm công nhân.

Phải thấy rằng, tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”, sự mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực được đặt ra từ rất lâu, hiện vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng. Ở khía cạnh khác, đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam chưa gắn kết với nhu cầu của thị trường cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng. Rất nhiều doanh nghiệp phản ánh sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường ngày một nhiều, trong khi công nhân có tay nghề, đáp ứng được yêu cầu của công việc thì luôn thiếu.

Công tác tuyên truyền cần được đầu tư thích đáng để thay đổi tâm lý chỉ muốn làm thầy của người lao động. Người lao động cần được định hướng nghề nghiệp ngay từ lúc chọn trường học, ngành học sao cho phù hợp với nhu cầu của nhà tuyển dụng và thị trường lao động hiện nay. Chẳng hạn, những nghề như: Trắc địa – Địa chính, Điện dân dụng và xí nghiệp, Điện công nghiệp, Cơ khí, Kỹ nghệ sắt (rèn, gò, hàn)… có đến 90% học viên sau khi tốt nghiệp ra trường đều có việc làm, tại sao thí sinh không thích đăng ký vào những ngành này để dễ dàng ở “đầu ra”?

 

Tái cơ cấu nguồn nhân lực doanh nghiệp khó khăn

doanh nghiệp thiếu công nhân
hình ảnh
Nhân lực Khó khăn

Theo các chuyên gia đánh giá thời điểm khó khăn như hiện nay thì là cơ hội để doanh nghiệp soi xét lại nhằm điều chỉnh hướng đi phù hợp. cũng theo phân tích trong thời gian dài doanh nghiệp không chú trọng các công tác quản lý quản trị, phát triển nhân lực hoàn thiện hơn về bộ máy nên dẫn đến không thích ứng được với thay đổi hiện nay của cuộc sống và xã hội.

Nếu như các doanh nghiệp con bệnh thì việc tái cấu trúc lại như cuộc phẫu thuật, doanh nghiệp có ý chí mạnh để thay đổi đúng phương pháp sẽ mạng lại hiệu quả tích cực. nhưng điều đó do doanh nghiệp quyết tâm thực hiện hay không.

Trong quá trình tái cấu trúc thì nên bắt đầu bằng việc phân tích môi trường và hiện trạng để đưa ra giải pháp tương ứng.

Từ đó hoàn thành công việc và hoạch định chiến lược phù hợp cho tương lai. Khi tái cơ cấu điều quan trọng chú ý đến quá trình xây dựng đội ngũ nhân sự, đạo tạo nguồn nhân lực có sẵn. xác định nguồn nhân lực dư thừa không cần thiết, xem xét vào các vị trí phù hợp trong doanh nghiệp hay tổ chức.

Bên cạnh đó xem xét lại việc xa thải, cắt giảm những nhân sự không phù hợp và việc làm thiếu hiệu quả, thiếu tinh thần làm việc giảm bớt gánh nặng cho công ty.

Nếu thấy việc thay đổi cần thiết thì dồn mọi nỗ lực và khả năng tạo hiệu quả cao cho doanh nghiệp phát triển.

Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

tai-xuong-1
tai-xuong-1
KH&CN

Nhân lực nói chung và khoa học công nghệ nói riêng là nhân tố ảnh hưởng sự phát triển của mỗi quốc gia. Đã có những quốc gia khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ chất lượng cao nên đạt được thành tựu về phát triển kinh tế xã hội vượt trội, hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa chỉ trong vài chục năm, Ví dụ điển hình là đất nước Nhật Bản.

Để phát triển như bây giờ Nhật Bản có nhiều chính sách đột phá vượt bậc trong đó chú trọng vào phát triển nhân lực khoa học và công nghệ là cần thiết.  nước nhật họ không ngừng học hỏi rèn luyện thời kỳ đó họ thuê các kỹ sư nước ngoài về học và làm. Cho đến ngày nay thì nước Nhật là nơi đào tạo và là nơi thu hút khắp thế giới các nơi đến để học tập.

Qua đó nước ta rút ra kinh nghiệm đào tạo bồi dưỡng chú trọng việc phát triển nhân lực khoa học và công nghệ, bằng các chương trình cụ thể.

Việc nâng cao năng lực nước ta cần thực hiện thông qua nước ngoài hoặc du học tại các nước tiên tiến.

Chú trọng vào ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, các lĩnh vực được ưu tiên. Xây dưnhj được các mục tiêu nhằm đào tạo được phát triển nhân lực khoa học và công nghệ cách hiệu quả nhất.

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho các khu

red_swan-wallpaper-1280x720
tai-xuong
Họp Chính Sách

Phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội là khâu đột phá mà nghị quyết đại hội đảng đề ra, trong đó có nguồn nhân lực để phát triển  các khu cụm công nghiệp.

Theo thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2020 là 7 khu với diện tích lên đến 2.273ha. và hiện nay có số khu công nghiệp đi vào hoạt động khu công nghiệp phú hà, khu công nghiệp trung hà…

Tuy nhiên phát triển các khu công nghiệp được hoạt động nhưng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề thiếu so với nhu cầu thực tế các doanh nghiệp.

Đại đa số các doanh nghiệp thu hút các kỹ sư công nhân lành nghề vào làm việc nhưng chất lượng lại chưa cao. Vì nguồn nhân lực thực tế nước ta thiếu về thực hành rất nhiều.

Vì vậy để làm tốt nhu cầu cấp bách về nhân lực chúng ta cần quan tâm công tác dự báo, xây dựng kế hoạch  hàng năm đào tạo nguồn nhân lực có sẵn các doanh nghiệp nâng cao tay nghề, Đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

Nhiều ngành dự báo khát nhân lực

khao khát nhân lực nước ta

tai-xuong-4

Theo trung tâm nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động , hiện nay một số ngành dịch vụ thì cung vượt quá cầu mà ngành công nghiệp xây dựng cung thì không đủ cầu.

Nếu kể ra một số ngành  trọng tâm phát triển có nhu cầu nhân lực lớn. ngành công nghiệp chế biến chế tạo, điện tử viễn thông, năng lượng mới và năng lượng tái tạo.

Các ngành điện, khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, ngành chế biến nông lâm, thủy sản, thực phẩm, đồ uống, ngành hóa chất, dệt may, gia giày, điện tử, thông tin, ngành cơ khí, luyện kim…

Với sự phát triển hiện nay thì đương nhiên cần nhiều nguồn lao động để phục vụ các ngành hoạt động và sản xuất. đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao như các kỹ sư là lựa chọn hàng đầu ưu tiên.

Và theo thông tin trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực có nhiều ngành nghề mới ra đời. đó các ngành nghề lồng ghép giữa các ngành nghề cũ kết hợp với nhau để phù hợp nền kinh tế hiện nay.

Vì vậy vấn đề nhân lực hiện nay là vấn đề bức thiết cho các doanh nghiệp và công ty.

Nhiều ngành công nghiệp mất cân đối nhu cầu nhân lực

biểu đồ ngành công nghiệp
tai-xuong-6
Mất Cân Đối Nhân Lực

Ngành công nghiệp mất cân đối nhu cầu nhân lực ở nước ta trong tình trạng báo động. Nhu cầu nhân lực ở số ngành công nghiệp chế tạo, điện tử viễn thông và năng lượng là đang trong tình hình thiếu hụt lao động chất lượng cao. Vậy tạo ra một số ngành công nghiệp mất cân đối nhân lực ngày phổ biến hơn.

Vì vậy chúng ta phải có động thái hay các doanh nghiệp có kế hoạch cụ thể để khăc phục sự cân đối này. Cũng theo thông báo hiện nay của trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động thành phố hồ chí minh có tốc độ phát triển cao, thì nhu cầu nhân lực trình độ cao như kỹ sư sẽ rất cần thiết trong giai đoạn 2016-2020 đến năm 2035.

Còn số ngành kinh tế tăng trưởng nhanh nhờ vào tự do hóa thương mại nên nhu cầu về nhân lực rất cần thiết. đặc biệt ngành công nghệ thông tin được xem như là điển hình mất cân đối nhu cầu nhân lực, số lượng nhân sự này chỉ tăng mức trung bình 8%. Và theo tính toán thì đến năm 2020 số lượng IT thiếu đến 500.000 nhân lực.

Giải bài toán nguồn nhân lực của người việt

chạy đua theo nguồn nhân lực thiếu
http://bkcs.online/
Chạy Đua Bằng Tư Duy

Đánh giá nguồn nhân lực hiện nay đối nước ta hay quốc gia trên thế giới muồn phát triển thì có nguồn nhân lực chất lượng cao. Ông cha thường nói nguồn nhân lực cao là hiền tài. nói như vậy không vì có tài không có đức là nhân lực cao. Nhân lực cao là hội tụ đủ cả 2 điều kiện người vừa có tài vừa có đức.

Tuy nhiên tài năng của nước ta hiện giờ không phải là khan hiếm nhưng sự đóng góp của họ cho đất nước còn khiêm tốn dẫn đến nhìn tổng thể thua kém nguồn nhân lực thế giới.

Theo tổng cục thống kê, năng suất lao động người việt chỉ bằng 1/15 của Singapore, 1/12 của Malaysia và 1/6 Thái Lan.

Năng suất lao động được đánh giá dựa vào chuyên môn và đạo đức nghề nnghiệp ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo đánh giá tổ chức lao động thế giới, yếu tố này việt nam còn nhiều yếu kém nên dẫn năng suất lao động yếu nhiều so khu vực.

Nhà nước ta chưa thu hút được nhân tài  giữ chân được họ ở lại phục vụ đất nước.

Các chính sách đưa ra chưa đáp ứng nhu cầu thực tế  và nhỏ lẻ.

Vì vậy nước ta có chính sách đãi ngộ hợp lý và phát hiện năng lực của các tài năng kịp thời để phục vụ đất nước không làm hao tổn nguyên khí quốc gia.

Dự báo nguồn nhân lực các doanh nghiệp

nhân lực trong bóng tối

Dự báo nguồn nhân lực là nhiệm vụ cần thiết cho mọi quốc gia và là nguồn đánh giá lên kế hoạch của các công ty doanh nghiệp . cũng là nguồn dự báo cho việc hoạch định chỉ tiêu  giải pháp chiến lược nền kinh tế xã hội. là căn cứ ban hành chính sách quản lý của các thời kỳ.

Nguồn nhân lực là một bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động. giới hạn độ tuổi lao động theo quy định từng quốc gia.

Dự báo nguồn nhân lực có nhiều nội dung ta chia làm như sau: dự báo số lượng và chất lượng, dự báo cung và cầu nhân lực.

Về mặt số lượng biểu hiện ở số người lao động hay số giờ lao động thực hiện ở các lĩnh vực nền kinh tế. số lượng phụ thuộc vào quy mô nền dân số.

Về chất lượng nhân lực: biểu hiện năng suất lao động. chất lượng càng tốt thì năng suất càng cao, ngoài ra có số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng như sự chăm chỉ, và kỹ năng người lao động, sức khỏe người lao động.

Cung cầu của nhân lực: cầu là về nguôn nhân lực thể hiện yêu cầu lao động của nền kinh tế, vùng lãnh thổ, … cả số lượng và chất lượng. cung là nguồn nhân lực thể hiện số lượng người lao động trên thị trường hiện có và nguồn ở các doanh nghiệp . Phụ thuộc sự đào tạo hiện có nước ta.