Bài toán nhân lực – vì sao Việt Nam vẫn thừa thầy thiếu thợ?

Thiếu nhân lực

Thực tế hiện nay, tình trạng thất nghiệp ở nước ta đang ở mức báo động. Chỉ vài năm trở lại đây, chúng ta không lấy gì làm lạ khi số lượng trường đại học được mở ra hàng loạt từ cả hình thức công lập và dân lập, từ đào tạo tại chỗ đến đào tạo từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trường còn đào tạo liên thông một cách ồ ạt và không giới hạn rõ số lượng. Đào tạo nhiều như vậy nhưng các doanh nghiệp luôn rất khó khăn trong việc tìm nhân lực có trình độ vì hệ thống giáo dục trong trường học của chúng ta làm việc hiệu quả quá thấp. Nhìn thực tế, nhiều trường đào tạo lấy chỉ tiêu và nghiêng về kinh doanh chứ không chú tâm đến chất lượng. Theo đánh giá thống kê, Việt Nam có 1,0887 triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp; tăng 16.400 người so với quý I/2016 và chiếm khoảng 2,29%. Đặc biệt, thất nghiệp nhiều nhất là nhóm trình độ đại học trở lên với hơn 191.000 người, tiếp đến là cao đẳng chuyên nghiệp với 94.800 người và trung cấp chuyên nghiệp với 59.100 người.

Thiếu nhân lực
Thiếu nhân lực

Một xã hội ai cũng có thể dễ dàng vào đại học, dễ dàng tốt nghiệp đại học thì tội gì không học ? Việc cho mở quá nhiều trường đại học ở khắp các tỉnh thành chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhiều cử nhân, thạc sĩ đang phải đi làm công nhân.

Phải thấy rằng, tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”, sự mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực được đặt ra từ rất lâu, hiện vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng. Ở khía cạnh khác, đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam chưa gắn kết với nhu cầu của thị trường cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng. Rất nhiều doanh nghiệp phản ánh sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường ngày một nhiều, trong khi công nhân có tay nghề, đáp ứng được yêu cầu của công việc thì luôn thiếu.

Công tác tuyên truyền cần được đầu tư thích đáng để thay đổi tâm lý chỉ muốn làm thầy của người lao động. Người lao động cần được định hướng nghề nghiệp ngay từ lúc chọn trường học, ngành học sao cho phù hợp với nhu cầu của nhà tuyển dụng và thị trường lao động hiện nay. Chẳng hạn, những nghề như: Trắc địa – Địa chính, Điện dân dụng và xí nghiệp, Điện công nghiệp, Cơ khí, Kỹ nghệ sắt (rèn, gò, hàn)… có đến 90% học viên sau khi tốt nghiệp ra trường đều có việc làm, tại sao thí sinh không thích đăng ký vào những ngành này để dễ dàng ở “đầu ra”?

 

About admin

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *